Câu chuyện Thầy tôi.

Thầy tôi sinh ngày 15 tháng 6 năm 1935. Tên rửa tội của Thầy là Raphaen. Khi lớn lên, được chịu Phép Thêm Sức, Thầy nhận thêm tên mới nữa đó là Micae. Thầy thường bảo: tôi được hai Tổng Lãnh Thiên Thần luôn luôn bên tôi.

Khi đi học, thầy theo môn Kinh tế và Kỹ thuật. Thầy ra trường với bằng tú tài của hai môn này. Thầy ra đời và bắt đầu đi kiếm việc làm ở Milwaukee. Thành Phố này lạnh qúa nên thầy đã di chuyển về thành phố San Francisco hoa lệ, nơi mà thầy cảm thấy thích thú và quyết định ở lại.

Rồi môt dịp tình cờ, gặp các thầy dòng Đaminh, không biết có gì thúc đẩy bên trong tâm hồn, thầy đã xin gia nhập với cộng đoàn Đaminh vào tháng 8 năm 1963 lúc 28 tuổi và lấy tên mới là Anthony, một vị thánh mà thầy rất yêu kính. Thế rồi thầy đã theo học triết học và thần học. Tiếp đó là thầy đã được lãnh chức linh mục và người ta gọi là Cha Anthony. Cha được bề trên bài sai làm phó một xứ đạo trong vùng. Công việc mục vụ dường như qúa sức và không hợp với sở thích, thế là cha Anthony lúc đó đã tìm đến Đan Viện Xitô Nhặt phép New Clairvaux.

Thầy chính thức xin gia nhập Đan Viện năm 1972, nơi thầy sống mai ẩn như các đan sĩ trong đời sống cầu nguyện và hy sinh. Thầy giữ công tác lo về điện nước và quản lý mua bán. Sau cùng thì Ngài giữ công tác tổng điều hành các công việc của đan viện. Năm nay 2016, thầy tôi 81 tuổi và bắt đầu chuẩn bị hưu dưỡng bởi vì đôi chân thầy không còn khỏe như xưa.  Thầynói rằng khi bước đi nó đau lắm! Do đó thầy phải dùng chiếc gậy và tự di chuyển bằng xe điện dành cho bệnh nhân để có thể đi lại đây đó trong nhà, và nhất là đi tham dự Thánh Lễ và các giờ thần vụ. Thầy cũng cho biết thầy làm đồ gốm như chén, lọ, các bình bông bằng xứ. Thầy hy vọng có thể tiếp tục làm việc được công việc ấy trong thời gian về hưu dưỡng.

Vâng, gọi là “thầy” vì ngay từ khi đặt chân đến Đan Viện New Clairvaux năm 2001, tôi chỉ biết tiếng Pháp vì từ Pháp qua California. Đặt chân đến New Clairvaux dưới sự bảo trợ của Viện Phụ Thomas X. Davis. Từ đó mà Gia Đình Châu Sơn đã được thành lập nhờ sự hỗ trợ rất tích cực của Ngài. Ngài đã không quản ngại thời giờ và công việc bề bộn cũng như đường xá xa xôi đến với cộng đồng Việt Nam ở Santa Ana, San Jose, Sacramento, Walnut Grove để hướng dẫn, khích lệ và tạo mọi thuận lợi để Gia Đình Châu Sơn có được như ngày hôm nay. ( hình ảnh: Elder Creek, Anthony, Walnut Grove, Santa Ana…)

Nhân câu chuyện thầy tôi, thiết tưởng cũng là cơ hội để nhắc đến công ơn của Ngài, đó là chưa nói đến việc Ngài bảo trợ bốn năm anh em Việt Nam thuộc Châu Sơn nay đã khấn trọn đời tại đan viện này.

 

 

Và nhất là đã xin Đức Cha Địa phận Sacramento cho chúng ta được lập Đan Viện Thánh Mẫu Sacramento hay Trung Tâm Gia Đình Châu Sơn của chúng ta hiện nay tại Walnut Grove, CA …

Dịp này, November 2016, tôi có dịp về lại New Clairvaux để cùng các đan sĩ tham dự tuần tĩnh tâm năm. Cộng Đoàn đã thay đổi nhiều qúa.  Nhiều đan sĩ như thầy: John Cullen, Casimir, Regis, Anscario… không còn nữa. Các Ngài đã hoàn tất hiến lễ cuộc đời và trở về nhà Cha… Còn lại giờ toàn là những khuôn mặt trẻ của thế hệ sau này, đã đến để nối tiếp công trình của Thiên Chúa sống đời âm thầm cầu nguyện và hy sinh tại New Clairvaux. Trong những khuôn mặt ấy, tôi vẫn nhận ra thầy tôi. Vì bốn năm 2001 đến 2005 tôi đã hằng ngày được thầy hướng dẫn cách viết và cách đọc tiếng Anh cho chuẩn. Do đó hình ảnh thầy lúc nào cũng đậm nét trong tôi như một người sư phụ nhân từ, điềm đạm và kiên nhẫn. Hằng ngày, cứ đúng bảy giờ tối là thầy trò tôi lại có nửa tiếng để thực tập tiếng Anh.

Lần này trở lại New Clairvaux, thầy tôi với mái tóc bạc như ông tiên, không đi lại được như xưa mà phải dùng chiếc xe điện để di chuyển đó đây. Tôi không cầm mình được khi thấy thầy đi xe điện đến tham dự đủ giờ kinh nguyện với các đan sĩ trẻ. Thầy phải vất vả lên xe xuống xe; chống gậy lết đến ca tòa; khó khăn khi mặc chiếc áo đan sĩ vào, và cũng vất vả khi hết giờ kinh phải cởi nó ra. Đứng giúp thầy mặc áo để đi đọc kinh, tôi mới thấy cảm kích về sự kiên cường của thầy trong ơn gọi. Đứng cũng khó mà đi cũng khó. Thầy sẵn lòng lết vào nhà nguyện để đọc kinh, dù đã yếu mệt, thật là một gương mẫu kiên trì trong ơn gọi. Đi bộ không được thì đi xe lăn. Giờ tham dự Thánh Lễ cộng đoàn, thầy tự điều khiển chiếc xe điện để di chuyển đến bên cạnh các cha đồng tế… và bao nhiêu việc khác nữa, nay đều đòi thầy, đã gìa cả mà phải gắng sức bội phần để chu toàn nhiệm vụ đan sĩ. Đây thật là một hiến lễ!!!

Vâng, tôi hỏi thầy có mệt và đôi khi chán nản không? Thầy trả lời: “sắp sửa tới đích rồi, đã 81 tuổi, ráng chút nữa là tới quê thật, nước trời. Nếu bỏ cuộc thì đi về đâu đây. Tin vững vào Thiên Chúa tốt lành và praising God.  Dominic thấy đó thầy John, thầy Regis, thầy Casimir, thầy Anscariô….mới có mấy năm nay mà đã kéo nhau đi cả rồi! Thế gian này rõ là tạm bợ. Mình có khác chi. Cố lên chút nữa! Thầy Joseph Gilbert thì đang hấp hối, Cha Harold thì bị Parkinson… Ráng chút nữa! Cầu xin Chúa phù giúp và nâng đỡ chúng ta đi đến đích để gặp được Chúa. Đôminic cũng cố lên nhé! I pray for you!”

Tôi ngậm ngùi và cảm phục thầy tôi. Thầy tôi không nói nhiều. Ánh mắt và nụ cười yêu thương kèm với những nỗ lực âm thầm của một sức lực đã yếu tàn, của ngọn đèn sắp tắt, nhưng lại là lời dạy và gương sáng khích lệ tôi bằng trăm bài giảng tu đức. Nhìn lại thế gian, nhìn vào xã hội, và nhìn vào cộng đoàn, nhìn vào chính tôi, tôi thấy mình thật là xấu hổ. Bởi vì con dính bén thế gian. Bạn thân mến, “Quê hương chúng ta ở trên trời mà!”Thánh Phaolô nói rõ ở Philip 3, 17-21. Vậy mà con người mọi thời đều dễ quên đi, nên đau khổ, hận thù, tranh chấp và chiến tranh cứ mãi hoài tiếp diễn, từ đời nọ đến đời kia, từ thế hệ này đến thế hệ khác. Xin Chúa mở cặp mắt thiêng liêng của chúng ta để nhận ra chân lý, nhận ra nguồn gốc và cùng đích cuộc đời. Bởi vì đúng như lời Thánh vịnh gia đã xướng: “ Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn”. (Tv. 62, 2)

Tạ ơn Chúa và Tri ân thầy tôi với niềm cảm mến vô hạn. “ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” một chữ cũng là thầy mà nữa chữ cũng là thầy. Tôi cất cao giọng hát bài tạ ơn Thiên Chúa, vì đã ban cho tôi một người thầy kính yêu, và một đấng chân tu kiên cường với Chúa và vì Chúa, chấp nhận mọi thử thách và chiến đấu để theo Chúa đến cùng. Chắc chắn, “đã cùng chiến đấu và chết với Đức Kitô, thì chúng ta cũng sẽ được cùng sống lại với người” (Rm. 6,3-4.)

Leave a Reply

Your email address will not be published.